Bài đăng Phổ biến

Thứ tư, ngày 13 tháng tư năm 2011

Cơ sở hạ tâng công nghệ thông tin đóng vai trò rất quan trọng trong việc bảo đảm chất lượng, độ ổn định, khả năng khắc phục sự cố, khả năng mở rộng của hệ thống CNTT.  Cơ sở hạ tâng công nghệ thông tin  là nền tảng vững chắc cho mọi hoạt động và các ứng dụng liên quan đến công nghệ thông tin. Cơ sở hạ tâng công nghệ thông tin  bao gồm:
  • Hệ thống cáp truyền thông (cho voice, video, data, các hệ thống cảnh báo, quản trị…)
  • Hệ thống điện nguồn cung cấp
  • Các hệ thống bổ trợ khác như hệ thống chống sét, hệ thống cảnh báo…
ĐẶC ĐIỂM
Giải pháp cho hệ thống cáp truyền thông
  • Hệ thống cáp đồng nhất cho các ứng dụng truyền data (LAN), voice (PBX, IP Telephony), video…
  • Sử dụng hệ thống tiêu chuẩn ANSI/TIA/EIA 568-B và ISO/IEC 11801:2002 2ND.
  • Đáp ứng hoàn toàn tất cả các yêu cầu nghiêm ngặt về:Chất lượng vật tư,tư vấn thiết kế,thi công,kiểm định,quản trị hệ thống,bảo hành, bảo trì (lên đến 25 năm).
  • Hệ thống cáp và các phòng chức năng (phòng IT, telecom closet…) được thiết kế bảo đảm đáp ứng các yêu cầu về:
  • Sàn nâng
  • Hệ thống điện và UPS.
  • Hệ thống chiếu sáng
  • Hệ thống tiếp đất và chống sét.
  • Hệ thống thông gió, điều hòa nhiệt độ.
  • Hệ thống báo cháy, báo khói
  • Hệ thống cửa và khóa an toàn
Các giải pháp bổ trợ khác:
  • Hệ thống chống sét: cục bộ cho phòng IT hay cho toàn bộ hệ thống.
  • Hệ thống UPS: dạng tập trung hay phân tán. Từ vài KVA đến vài trăm KVA.
  • Hệ thống camera quan sát.
  • Hệ thống cảnh báo, báo cháy, báo khói
  • Hệ thống kiểm soát cửa ra vào.
LỢI ÍCH CHO KHÁCH HÀNG
  • Cơ sở hạ tâng công nghệ thông tin được xây dựng tối ưu và phù hợp với các tiêu chuẩn quốc tế
  • Dễ dàng triển khai một hệ thống mạng tích hợp đa dịch vụ, đáp ứng tất cả các ứng dụng
  • Dễ dàng mở rộng, bổ sung và thay đổi khi cần
  • Bảo đảm sự ổn định, bảo mật và an toàn cho hệ thống
  • Tiết kiệm chi phí quản lý, vận hành hệ thống
  • Bảo đảm được chi phí đầu tư
  • Dịch vụ hỗ trợ nhanh chóng và thuận tiện với nhiều cấp độ cho khách hàng lựa chọn
KHẢ NĂNG CỦA DÒNG SÔNG VÀNG
Dòng Sông Vàng tư vấn cho khách hàng xây dựng 1 hệ thống hạ tầng mềm dẽo có độ tích hợp dịch vụ cao, thích ứng với quy mô hoạt động của khách hàng.
  • Hạ tầng mạng cho phép chuyển đổi các quy trình kinh doanh khi cần thiết mà không phải đầu tư lại
  • Các ứng dụng hiệu quả cao có cách thức sử dụng dễ dàng không cần thay đổi thói quen của người sử dụng thông thường
  • Tổng chi phí sở hữu và sử dụng thấp
  • Đảm bảo tính cạnh tranh cao, khả năng tối ưu hoá kịp thời khi có cơ hội phát triển
  • Tận dụng nhanh nhất mọi lợi thế công nghệ mới nhất trên thị trường

Thứ hai, ngày 11 tháng tư năm 2011

Hệ Thống hạ tầng CNTT cho doanh nghiệp

Hạ tầng công nghệ thông tin là một hệ thống hết sức quan trọng, hiểu được sự quan trọng đó mới giúp cho sự phát triển của CNTT tại Việt Nam mới nhanh chóng lớn mạnh. Bên cạnh sự đầu tư có bài bản cho hệ thống hạ tầng công nghệ thông tin của mình ở các Công ty kinh doanh về lãnh vực CNTT hoặc các Công ty nước ngoài, thì đa phần các doanh nghiệp kinh doanh về các lĩnh vực khác không quan tâm hoặc đầu tư rất nhỏ cho hệ thống hạ tầng và từ đó tốn rất nhiều chi phí cho việc bảo hành, phát triển hệ thống về sau.

Một hệ thống hạ tầng CNTT được đầu tư hoàn chỉnh phải mang các yếu tố sau:

• Dễ quản lý: Hệ thống được thiết kế trên tiêu chuẩn dễ quản lý, thuận tiện cho công tác kiểm tra và vận hành hệ thống.
• Dễ dàng mở rộng: Hệ thống cho phép dễ dàng thi công mở rộng khi có nhu cầu để đáp ứng cho công việc. Tối ưu hóa chi phí đầu tư ban đầu.
• Dễ dàng lắp đặt, vận hành và sửa chữa: hệ thống phải cho phép dễ dàng và thuận tiện cho thi công và trong trường hợp có sự cố thì phải thuận tiện cho việc kiểm tra và sửa chữa.
• Đáp ứng tốt các yêu cầu của công nghệ: hệ thống đáp ứng tốt các nhu cầu kỹ thuật hiện tại và các nhu cầu phát triển công nghệ thông tin trong tương lai 15 năm.
• Đáp ứng tốt các nhu cầu trong hoạt động kinh doanh và thương mại của công trình.
• Hệ thống có tính linh hoạt và sẵn sàng cao, sử dụng vật tư thiết bị của các hãng sản xuất có uy tín, chất lượng trên thị trường và có đối tác tại Việt Nam.

Một số các đơn vị thi công hệ thống hạ tầng CNTT nhưng lại không am hiểu về CNTT từ giai đoạn thiết kế cho đến giai đoạn thi công hệ thống. Như vậy sẽ tạo ra một hệ thống vô cùng lãng phí và hoạt động kém hiệu quả gây ra sự gián đoạn trong quá trình làm việc và không thể phát triển trong giai đoạn nâng cấp ứng dụng.

Các vấn đề thường thấy trong các dự án thiết kế và thi công thông thường không có chuyên môn về CNTT hay xảy ra các tình huống sau:


- Hệ thống Thiết kế dư thừa và lãng phí vì không có chuyên môn cao trong lĩnh vực CNTT
- Hệ thống cáp, thiết bị cho hệ thống cáp không phải là hàng chính hãng từ các nhà cung cấp có chất lượng và uy tín.
- Đấu nối không đúng kỹ thuật và tiêu chuẩn chất lượng.
- Lực lượng kỹ thuật thi công không được đào tạo chuyên môn bài bản.
..........

Sự ra đời và chuẩn hệ thống cáp có cấu trúc:

Vào những năm giữa thập niên 80, Hiệp hội công nghiệp viễn thông – viết tắt là TIA (Telecommunications Industry Association) và Hiệp hội công nghiệp điện tử - viết tắt là EIA (Electronic Industries Alliance) bắt đầu phát triển các phương pháp để xây dựng hệ thống cáp, với mục tiêu nhằm phát triển hệ thống dây dẫn hợp nhất hỗ trợ cho nhiều chủng loại thiết bị và các môi trường khác nhau. Năm 1991, TIA/EIA cho ra đời chuẩn TIA/EIA 568 (Commercial Building Telecommunication Cabling standard).
Tiêu chuẩn hệ thống cáp có cấu trúc TIA/EIA đề ra cách thiết kế, xây dựng, quản lý hệ thống cáp, và hệ thống này có cấu trúc, nghĩa là một hệ thống được thiết kế theo từng khối, mỗi khối có những đặc trưng về vận hành riêng biệt. Các khối được ghép lại với nhau theo kiểu phân cấp để hình thành nên hệ thống liên lạc đồng nhất.
Phiên bản khởi đầu của TIA/EIA trải qua một vài cập nhật và bổ sung. Phiên bản chủ yếu đã được cập nhật là phiên bản được phát hành vào năm 2000, phiên bản này kết hợp chặt chẽ các thay đổi của các phiên bản trước đó - TIA 568-B.1-2000 (Commercial Building Telecommunications Wiring Standard).
Chuẩn TIA chỉ ra các thông số cho mỗi phần của hệ thông cáp, bao gồm kết nối vùng làm việc, kết nối ngang, phòng viễn thông, phòng thiết bị và kết nối chéo, kết nối xương sống, và tiện nghi đầu vào.

Cáp đầu vào Từ ISP:

Cáp Backbone thông tầng:
Phòng Thiết bị:

Kết nối Khu vực làm việc:


Vị trí lắp outlet:



Mô Hình Triển khai


Cáp và thiết bị đấu nối cáp:

Cáp Mạng UTP/FTP:



Thống kê tiêu chuẩn và mã hiệu:


Modular và connector cho CAT6 UTP/FTP:


Các loại Outlet:


Patch Panel đấu nối cáp:



Đấu nối Patch Panel:




Thiết bị Test tín hiệu đầu cuối:


Hệ thống cáp đi trong sàn nâng:

Bài viết giới thiệu sơ lược về các vấn đề cơ bản của hạ tầng công nghệ thông tin, việc thiết kế và lắp đặt hệ thống mạng - thoại theo tiêu chuẩn một hệ thống cáp có cấu trúc phải bao gồm đầy đủ các yêu tố trên. Xây dựng hệ thống hạ tầng CNTT cũng như xây dựng nền và móng cho căn nhà, nếu hạ tầng không hoạt động tốt thì không thể vận hành tốt hệ thống và các ứng dụng quản trị, ứng dụng phần mềm.

Chi tiết của một hệ thống cáp có cấu trúc sẽ được trình bày trong một bài viết khác phân tích cụ thể và chi tiết hơn nữa về cáp có cấu trúc cho hệ thống mạng - thoại và hệ thống truyền thông tích hợp.

Tối Ưu Hóa Hoạt Động Mạng

Các hệ thống mạng dịch vụ lõi (core network) đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì các hoạt động trong doanh nghiệp (DN) bởi ngày nay mọi ứng dụng đều được chạy trên nền tảng mạng.

Mạng - xương sống của DN

Các doanh nhân thường xuyên phải giải quyết công việc khi đang ở trên máy bay hay ở nước ngoài. Chính điều này đã dẫn tới nhu cầu phải luôn truy cập được dữ liệu, nguồn và thông tin mọi lúc, mọi nơi và bằng bất kỳ phương tiện nào.
Song song với đó, các giám đốc điều hành (CEO), giám đốc CNTT (CIO), giám đốc tài chính (CFO)... cũng luôn phải quan tâm làm sao giảm chi phí vận hành và giảm rủi ro trong hệ thống mạng. Đặc biệt, khi hạ tầng công nghệ thông tin phát triển phát triển với nhiều thiết bị được kết nối thêm vào, CIO phải đau đầu với việc làm sao có một đội ngũ hỗ trợ để vận hành tối ưu. Trong khi đó, nếu tăng nhân sự sẽ làm tăng chi phí của DN. Do đó, họ thường tìm kiếm các giải pháp để một người có thể xử lý được nhiều công việc hơn.

Sự phát triển của hạ tầng công nghệ thông tin dành cho DN trong một thị trường mới nổi như Việt Nam đưa ra nhiều thách thức đối với các DN. DN vừa phải tập trung giải quyết các vấn đề kinh doanh đồng thời vận hành một cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin đáng tin cậy và có độ an toàn cao. Vậy đâu là những công nghệ đang được các CIO thế giới quan tâm và là những tham khảo hữu ích cho các CIO Việt Nam?

Các công nghệ mạng được quan tâm
Theo ông Victor Law, Giám đốc Kinh doanh khu vực Châu Á - Thái Bình Dương, Infoblox, các nhà quản lý đang tập trung tìm kiếm các giải pháp giúp quản lý tốt hơn hệ thống mạng, giảm chi phí vận hành. Đó có thể là những giải pháp quản lý với nhiều tính năng hoàn toàn tự động giúp thay thế các công việc giám sát thủ công trước đây. Các giải pháp được nhiều DN để ý thường có khả năng tự động hóa rất nhiều thao tác, quy trình; cung cấp chi tiết các thông tin về hiện trạng mạng; lưu lại lịch sử tất cả các thay đổi trong mạng... Nhờ đó, một quản trị mạng có thể dễ dàng xác định lỗi và cung cấp dịch vụ cho người sử dụng một cách nhanh chóng, tự động.

Ngoài ra, cũng theo ông Victor Law, xu hướng công nghệ trong hiện tại và tương lai là xây dựng hệ thống mạng trên nền tảng ảo hóa. Ảo hóa sẽ cho phép hạ tầng công nghệ thông tin thay đổi linh hoạt, đáp ứng được các lưu lượng dù lớn hay nhỏ ngay tức thời.

Một nhóm các giải pháp khác được nhiều DN dịch vụ quan tâm là giải pháp giúp cải thiện việc truyền dữ liệu. Vorkon Patra - Yanan, Giám đốc khu vực Bắc Đông Nam Á của Riverbed cho biết qua các kết quả nghiên cứu và phát triển (R&D) của hãng cho thấy mặc dù ngày nay, cước băng thông càng giảm, cáp quang đã trở nên phổ biến nhưng một số lượng các cáp đồng vẫn tồn tại và các DN quan tâm làm sao giảm độ trễ (latency) trong quá trình truyền dữ liệu.

Việt Nam có địa hình trải dài từ Bắc vào Nam, nhu cầu sử dụng các hệ thống mạng diện rộng (WAN) hay đường truyền riêng (leaseline) để kết nối giữa trụ sở với các văn phòng, chi nhánh là rất phổ biến. Do đó, theo Vorkon, thị trường dành cho các giải pháp cải thiện hoạt động mạng tại đây rất tiềm năng. Hiện Riverbed đang có chính sách dùng thử sản phẩm áp dụng cho các DN Việt Nam.

Giải mã bí mật của một hệ thống mạng an toàn


Website Việt Nam bị hacker Thổ Nhĩ Kỳ tấn công, hơn 60% website các cơ quan Nhà nước bị tấn công… Những thông tin kiểu này những tuần qua chỉ là một phần rất nhỏ trong hàng ngàn, hàng trăm ngàn cuộc tấn công trên thế giới thời gian qua. Làm thế nào đây khi mà chúng ta đã không thể dừng cuộc chơi mà cả thế giới này trong đó có Việt Nam không thể đứng ngoài cuộc?

Chương trình Sự lựa chọn cho tương lai sẽ“Tiếp tục câu chuyện an ninh mạng”. Các chuyên gia đến từ tập đoàn an ninh mạng hàng đầu Juniper Networks sẽ giúp chúng ta hiểu hơn về các nội dung an ninh mạng cơ bản.



Cập nhật cảnh báo an ninh mạng

Các vụ tấn công ngày một tăng , và tăng theo cấp số nhân. Năm 1997 mới lẻ tẻ năm 2002 trên 80 ngàn vụ, năm 2003 trên 120 ngàn vụ.Còn trong năm 2004 vừa qua, theo nghiên cứu của Trung tâm Điều phối an ninh mạng CERT, trường Đại học Carnegie Mellon, đã có tới 3780 lỗ hổng bảo mật được phát hiện trên mạng thông tin toàn cầu Internet.

“Với doanh nghiệp lớn họ có cách phòng ngự của họ vì họ có rất nhiều kỹ sư tin học. Nhưng cũng có những người dùng doanh nghiệp nhỏ và vừa thì họ không hề biết nhiều về tin học. Và dĩ nhiên họ là những người dễ bị tấn công nhất”-Tổng Giám đốc Juniper Networks Việt Nam Hà Huy Hào khẳng định.

Thiệt hại từ các vụ tấn công trên mạng không chỉ là thời gian để điều tra, để khôi phục hệ thống mà còn là hiệu quả sản xuất kinh doanh, chất lượng và dịch vụ. Những thiệt hại như vậy có thể được quy đổi thành các con số cụ thể. Chỉ tính riêng các thiệt hại do virus gây ra, theo Reuter, năm 2001 là 13 tỷ USD, năm 2002 là 25 tỷ, năm 2003 là 55 tỷ USD.

Đằng sau những thiệt hại về mọi mặt chính là nỗi lo về khả năng đảm bảo an ninh thông tin cho các doanh nghiệp tổ chức khi mà họ đang phải đương đầu với sự thiếu hụt cả về nhân lực CNTT lẫn sự hiểu biết cần thiết về an ninh mạng.

“Vì an ninh là cái mà các doanh nghiệp tổ chức cần phải học hỏi, cần phải hiểu một cách sâu sắc, cặn kẽ trước khi thực sự áp dụng an ninh cho hệ thống mạng. Trong khi đó, nhiều công ty, đa phần là doanh nghiệp vừa và nhỏ không đủ kinh nghiệm nhiều tri thức để bảo vệ hệ thống mạng của mình. Khi chúng tôi nói về hoạt động tấn công, chỉ riêng virus mỗi tuần để có thêm 700 virus mới. Tức là hãy tưởng tượng, nếu bạn chỉ mua bức tường lửa hay phần mềm diệt virus và không làm gì ngoài việc chờ nó bảo vệ bạn thì bạn sẽ gặp nguy vì chỉ sau 1 tuần hệ thống sẽ bị tới 700 virus mới tấn công”-Abby Tang - Giám đốc giải pháp Doanh nghiệp Juniper Networks khu vực CA-TBD cho biết.

Thị trường an ninh mạng Việt Nam: tăng tốc!

Thị trường an ninh mạng Việt Nam tuy quy mô còn nhỏ bé so với thị trường thế giới đã chín muồi nhưng lại có tốc độ tăng trưởng thuộc vào loại cao nhất trên thế giới. Dự báo của Frost & Sullivan cho thấy, thị trường an ninh bảo mật mạng ở Việt Nam, từ nay đến 2011, sẽ đạt tốc độ tăng trưởng bình quân năm là 32%. Trong khi đó, thị trường các sản phẩm phát hiện và ngăn chặn xâm nhập trái phép IDP ở nước ta được dự đoán sẽ tăng 52,3% bình quân năm.

Hãy có những hành động cụ thể, chủ động phòng ngừa, chủ động ngăn chặn trước khi bị tấn công. Và để làm được điều đó hãy nắm bắt, hãy cập nhật liên tục thông tin, kỹ thuật, kinh nghiệm về an ninh, bảo mật mạng, những chuyện tưởng là đơn giản nhưng lại là điểm yếu của rất nhiều tổ chức, doanh nghiệp ở nước ta hiện nay!

Abby Tang - Giám đốc giải pháp Doanh nghiệp Juniper Networks khu vực CA-TBD khẳng định: “An ninh mạng là một xu hướng lớn hiện nay, đặc biệt ở Việt Nam. Chúng tôi nhìn nhận tốc độ phát triển là 92% trong năm 2004 so với năm 2003. Chúng tôi cũng thấy là nhiều hệ thống đóng lâu nay bắt đầu mở ra với Internet, với thế giới. Vấn đề nảy sinh khi nhiều người tham gia vào mạng chính là an ninh. Đó là lý do tại sao mọi người phải cẩn trọng khi đưa mạng kết nối cùng Internet. Đó là lý do tại sao chúng tôi thấy có sự phát triển mạnh mẽ ở đây”.

Quy mô mạng máy tính doanh nghiệp ngày một mở rộng. Bên trong công ty đã đành, còn mở rộng ra phía ngoài với bản thân đội ngũ nhân công làm việc di động, các chi nhánh và cả với đối tác, với khách hàng….

Một khi biên giới mạng được mở rộng, thì điều đó cũng đồng nghĩa với việc gia tăng các nguy cơ bị tấn công, dẫn đến nhu cầu ngày càng cao về an ninh mạng. Một so sánh: doanh số dịch vụ dữ liệu ở khu vực châu Á chỉ tăng 5% năm 2004, trong khi doanh số thị trường mạng riêng ảo tăng tới 40%.

Cùng với băng rộng, mạng LAN không dây đang trên đà tăng tốc. Khu vực châu Á –TBD trừ Nhật Bản từ 2002 đến 2008 dự kiến mức tăng trưởng thiết bị LAN không dây bình quân năm là 50%, đình điểm là 59% trong năm 2008. Riêng Việt Nam, trong hai năm trở lại đây, tâm điểm chính là sự tăng tốc của kết nối băng rộng.

Brad Gray -Phó chủ tịch Juniper Networks khu vực châu Á TBD cho biết:”Thị trường Internet băng rộng ở Viêt Nam phát triển với tốc độ nhanh thuộc loại nhất trên thế giới. Lượng thuê bao Internet dự kiến sẽ tăng gấp đôi trong năm nay và trong vòng 3 năm tới nó sẽ là gấp 5 lần. Và dĩ nhiên với sự phát triển của Internet băng rộng, sẽ xuất hiện rất nhiều nhu cầu về an ninh mạng”.

Một câu hỏi mà các doanh nghiệp tổ chức luôn trăn trở, đó là làm thế nào để thiết lập một hệ thống an ninh đủ khả năng bảo vệ mình trước các cuộc tấn công. Đối với không ít đơn vị, đặc biệt với một thị trường an ninh, bảo mật mạng còn non trẻ như nước ta, câu trả lời không dễ dàng gì có được một khi ngay đến những mô hình an ninh cơ bản, họ vẫn chưa biết tới!

Cơ bản công nghệ an ninh mạng

Một phần mềm diệt virus, một thiết bị an ninh mạng nào đó hay một đội ngũ chuyên gia an ninh mạng là đủ để đảm bảo sự an toàn cho cả hệ thống mạng của doanh nghiệp? Cho đến thời điểm này và có lẽ mãi về sau cũng vậy, con người là yếu tố then chốt, nhưng nếu thiếu những công cụ cần thiết tối thiểu thì yếu tố con người cũng phải bó tay. Dù đó có là những chuyên gia giỏi nhất trong lĩnh vực này.

Các công nghệ an ninh phổ biến hiện nay là chống virus, bức tường lửa, kiểm soát truy cập, an ninh mức vật lý, phát hiện xâm nhập trái phép. Đầu tiên là tường lửa chiều sâu, cung cấp công cụ mạnh kiểm soát truy cập, ngăn chặn tấn công, bảo vệ mạng vùng biên và mạng lõi.

Abby Tang - Giám đốc giải pháp Doanh nghiệp Juniper Networks khu vực CA-TBD cho biết: “Bức tường lửa cũng giống như bức tường và cửa ra vào để bảo vệ lưu lượng vào ra mạng. Nhưng liệu an ninh có thể đảm bảo một khi bạn đóng chặt nhiều lớp cửa ra vào ngôi nhà nhưng lại mở trong một trong các cửa sổ của ngôi nhà. Vì vậy, chúng tôi muốn chắc rằng tất cả mọi lỗ hổng bảo mật đều được vá, bức tường lửa hoạt động giúp cho mạng được an toàn”.

Nhưng một mình công nghệ tường lửa đã đủ đảm bảo an toàn cho hệ thống? Có thể kể đến thiết bị phát hiện xâm nhập trái phép IDS.

IDS giống như hệ thống báo trộm, cảnh báo bạn khi có các cuộc tấn công. Tuy nhiên đây là một giải pháp giám sát thụ động, nó không ngăn chặn được việc tấn công phá hoại hệ thống mạng. Chính vì vậy các IDS đang dần được thay thế bằng các giải pháp phát hiện và ngăn chặn tấn công IDP.

Hệ thống phát hiện và ngăn chặn xâm nhập trái phép IDP giám sát lưu thông trên mạng theo nhiều cách thức khác nhau để xác định đó là những kết nối thực sự hay là các cuộc tấn công xâm nhập. Và cách duy nhất để ngăn chặn cuộc tấn công là loại bỏ lưu thông tấn công ngay khi phát hiện ra nó trước khi nó có thể tấn công được tới đích.

“Vì an ninh mạng không chỉ được đảm bảo bằng 1 công cụ duy nhất, nên chúng ta cần tới nhiều thiết bị khác nhau hoạt động liên kết với nhau trên cùng một mạng, để đảm bảo thực hiện triệt để an ninh mạng. Mỗi thiết bị sẽ có nhiệm vụ riêng. Bức tường lửa sẽ có nhiệm vụ ngăn chặn, giám sát lực lượng vào ra mạng. Trong khi đó bộ định tuyến sẽ có trách nhiệm duy nhất là đảm bảo là những ai không có quyền truy cập hợp pháp sẽ không được vào. Chúng ta cũng có thể thấy những công cụ khác nhau như IDP có nhiệm vụ không chỉ quét lực lượng xem có hacker tấn công hay không, mà nếu có sẽ phải ngăn chặn lực lượng đó ngay lại”-Abby Tang nói.

Mạng riêng ảo dùng công nghệ Ipsec cung cấp kết nối bảo mật trực tiếp giữa các điểm kết nối site-to-site bằng cách sử dụng công nghệ mã hoá để bảo mật đường truyền dữ liệu thay cho việc sử dụng mạng Frame Relay hoặc đường truyền riêng, chi phí cao.

Trong khi đó, mạng riêng ảo dựa trên lớp bảo mật gói SSL lại sử dụng công nghệ bảo mật SSL có sẵn trong trình duyệt web, cho phép truy cập bảo mật tới những nhân viên làm việc di động, các đối tác, và các khách hàng thông qua việc cung cấp công cụ kiểm soát truy cập tập trung người sử dụng hay nhóm sử dụng ở các ứng dụng và tài nguyên mạng.

Abby Tang cho biết: ”Mạng riêng ảo SSL là công nghệ cần thiết cho truy cập từ xa. Vì giờ đây các bạn có thể thấy rất nhiều người đang truy cập vào Internet có thể từ Kiosk, từ nhà vì mọi người hiện nay không chỉ làm việc 12 giờ ở cơ quan mà thậm chí còn mang việc về nhà. Vì vậy khi người dùng truy cập và mạng công ty từ bên ngoài mạng phải qua công nghẹ mạng riêng ảo SSL, để đảm bảo hệ thống mạng của họ là an toàn và được bảo vệ khi truy cập vào mạng”.

“Công nghệ mạng riêng ảo SSL giúp cho doanh nghiệp kết nối với người dùng một cách hiệu quả hơn, nhanh chóng hơn công nghệ VPN IPsec vì không cần cài đặt ở phía người dùng. Vào năm 2006, sẽ có khoảng 80% các giải pháp truy cập từ xa sử dụng công nghệ riêng ảo SSL thay vì Ipsec” - Francis Teo cho biết.

Một giải pháp thứ 3 là mạng riêng ảo chuyển mạch đa giao thức MPLS. Công nghệ này sử dụng chuyển mạch nhãn để định tuyến, chuyển tiếp hay chuyển mạch lưu thông nhằm kiểm soát các gói thông tin được lưu chuyển trên mạng.

Theo cách này, thay vì sử dụng các kỹ thuật mã hoá trong Ipsec để tạo ra một kết nối riêng biệt, MPLS lại dùng kỹ thuật định tuyến dẫn đường để đảm bảo kết nối gói dữ liệu là riêng biệt. Tuy nhiên, hiện tại, thị trường công nghệ mạng riêng ảo VPN đang thuộc về SSL, chứ không phải là Ipsec hay MPLS.



Công nghệ an ninh: từ “đa trong một” cho đến “nhiều lớp”

Các giải pháp bảo mật hiện đang theo hướng tích hợp đa công nghệ trong một. Chẳng hạn giải pháp Netscreen của Juniper Networks tích hợp hầu hết các công nghệ bảo mật then chốt hiện nay: bức tường lửa, mạng riêng ảo dùng công nghệ Ipsec, SSL. Bên cạnh đó phải kể đến các tính năng bảo vệ từ chối dịch vụ, chống virus và chống xâm nhập bất hợp pháp cũng như bảo mật hội nghị trực tuyến.

Thiết bị mạng Lan không dây 5GT của Juniper có cơ chế phân quyền truy cập dối với người dùng thuộc các cấp độ các nhau. Những tính năng này kết hợp cùng mạng riêng ảo, bức tường lửa, khả năng quản trị dễ dàng làm nên một giải pháp an ninh tích hợp rất mạnh. 5GT có khả năng tạo ra các khu vực an ninh riêng biệt, một tính năng cho phép DN thiết lập 4 khu vực không dây. Mỗi khu vực có giao diện riêng biệt, có các tính năng mã hoá và xác thực độc lập. 5GT tích hợp giải pháp chống virus có khả năng tự cập nhật. 5GT đồng thời là một modem ADSL.

Abby Tang cho biết: ”Vì các văn phòng từ xa thường là các doanh nghiệp vừa và nhỏ thường là thiếu nguồn nhân lực công nghệ thông tin. Sự quan tâm dành cho công nghệ thông tin là rất tối thiểu. Đó là lý do tại sao chúng tôi đưa ra một giải pháp duy nhất giải quyết mọi vấn đề. Chẳng hạn giải pháp chống Virus, bảo mật chiều sâu kèm theo IPSec, bức tường lửa, hệ thống phát hiện và ngăn ngừa xâm nhập IDP... Tất cả những giải pháp an ninh mạng đó được tích hợp vào 1 sản phẩm. Nó cho phép các nhà quản trị có thể quản lý từ xa một cách dễ dàng những điểm cách trụ sở chính 2 giờ bay”.

Cách thức bảo mật hiệu quả nhất hiện nay được triển khai theo lớp trên toàn hệ thống mạng nhằm cung cấp các mức bảo mật cần thiết cho hệ thống mạng và các ứng dụng. Các giải pháp bảo mật phải đáp ứng việc cung cấp truy cập bảo mật cho các nhân viên, đối tác và khách hàng cho dù phải kết nối qua những hệ thống mạng không tin cậy.

“Chúng tôi tin tưởng vào gọi là cách tiếp cận an ninh theo lớp. Về cơ bản an ninh không nên là 1 giải pháp đơn nhất mà cần phải có một cách tiếp cận tổng thể về an ninh mạng. Chẳng hạn với một doanh nghiệp lớn có nhiều điểm truy cập khác nhau, yêu cầu kỹ thuật an ninh ở các điểm truy cập từ xa là khác với mạng chính ở trụ sở nhưng cách tiếp cận an ninh mạng theo lớp là như nhau”-Francis Teo khẳng định.

Liệu rằng sẽ có một cách tiếp cận chung về an ninh mạng cho các loại hình tổ chức, doanh nghiệp khác nhau? Chắc chắn sẽ là không. Sự khác biệt về quy mô tổ chức mạng, phạm vi hoạt động của hệ thống thông tin cũng như khả năng tài chính, nguồn lực CNTT dẫn đến các nhu cầu khác nhau về an ninh bảo mật mạng.

Francis Teo cho rằng:”Với các DN vừa và nhỏ, loại giải pháp họ cần lựa chon là giải pháp dễ triển khai, dễ quản lý. Lý do là họ luôn luôn không có lực lượng chuyên gia CNTT để quản trị những giải pháp đó. Các bạn nên khai thác các bức tường lửa ở mức cơ bản. Thiết bị lọai này sẽ đảm bảo các chức năng an ninh như phát hiện và ngăn chặn xâm nhập. Và khi có nhu cầu truy cập từ xa thì hãy trang bị một thiết bị VPN SSL loại nhỏ và đặt phía sau bức tường lửa”.

Francis Teo cho rằng: “Nếu bạn là doanh nghiệp lớn, hệ thống mạng của bạn chắc chắn là sẽ phức tạp. Trong trường hợp đó bạn cần đến các giải pháp dành riêng cho doanh nghiệp: Một bức tường lửa dành cho doanh nghiệp cho phép hỗ trợ nhiều gói thông tin hơn và lưu lượng vào ra nhanh hơn...Tiếp theo bạn nên có 1 thiết bị IDP phía sau bức tường lửa. Thiết bị này là mức chặn truy cập ở mức 2. Nếu bạn cần truy cập từ xa thì cần có thêm một thiết bị VPN/SSL sau bức tường lửa và đứng trước thiết bị phát hiện, ngăn chặn xâm nhập trái phép IDP”.

Những nội dung trên chúng tôi đưa ra không nhằm tới việc xây dựng một mô hình mẫu về an ninh, bảo mật mạng mà chỉ mang tính chất tham khảo. Mỗi một doanh nghiệp, tổ chức cần có một cách tiếp cận cụ thể và hoạch định một chiến lược đảm bảo an ninh mạng một cách có hệ thống và dài hơi cả về đầu tư công nghệ, lẫn đào tạo nguồn nhân lực. Đối với doanh nghiệp nhỏ thì có thể sử dụng dịch vụ an ninh mạng thay vị tự làm.

Hệ Thống Công Nghệ Thông Tin

Hạ tầng công nghệ thông tin là một hệ thống hết sức quan trọng, hiểu được sự quan trọng đó mới giúp cho sự phát triển của CNTT tại Việt Nam mới nhanh chóng lớn mạnh. Bên cạnh sự đầu tư có bài bản cho hệ thống hạ tầng công nghệ thông tin của mình ở các Công ty kinh doanh về lãnh vực CNTT hoặc các Công ty nước ngoài, thì đa phần các doanh nghiệp kinh doanh về các lĩnh vực khác không quan tâm hoặc đầu tư rất nhỏ cho hệ thống hạ tầng và từ đó tốn rất nhiều chi phí cho việc bảo hành, phát triển hệ thống về sau.

Một hệ thống hạ tầng CNTT được đầu tư hoàn chỉnh phải mang các yếu tố sau:

• Dễ quản lý: Hệ thống được thiết kế trên tiêu chuẩn dễ quản lý, thuận tiện cho công tác kiểm tra và vận hành hệ thống.
• Dễ dàng mở rộng: Hệ thống cho phép dễ dàng thi công mở rộng khi có nhu cầu để đáp ứng cho công việc. Tối ưu hóa chi phí đầu tư ban đầu.
• Dễ dàng lắp đặt, vận hành và sửa chữa: hệ thống phải cho phép dễ dàng và thuận tiện cho thi công và trong trường hợp có sự cố thì phải thuận tiện cho việc kiểm tra và sửa chữa.
• Đáp ứng tốt các yêu cầu của công nghệ: hệ thống đáp ứng tốt các nhu cầu kỹ thuật hiện tại và các nhu cầu phát triển công nghệ thông tin trong tương lai 15 năm.
• Đáp ứng tốt các nhu cầu trong hoạt động kinh doanh và thương mại của công trình.
• Hệ thống có tính linh hoạt và sẵn sàng cao, sử dụng vật tư thiết bị của các hãng sản xuất có uy tín, chất lượng trên thị trường và có đối tác tại Việt Nam.

Một số các đơn vị thi công hệ thống hạ tầng CNTT nhưng lại không am hiểu về CNTT từ giai đoạn thiết kế cho đến giai đoạn thi công hệ thống. Như vậy sẽ tạo ra một hệ thống vô cùng lãng phí và hoạt động kém hiệu quả gây ra sự gián đoạn trong quá trình làm việc và không thể phát triển trong giai đoạn nâng cấp ứng dụng.

Các vấn đề thường thấy trong các dự án thiết kế và thi công thông thường không có chuyên môn về CNTT hay xảy ra các tình huống sau:


- Hệ thống Thiết kế dư thừa và lãng phí vì không có chuyên môn cao trong lĩnh vực CNTT
- Hệ thống cáp, thiết bị cho hệ thống cáp không phải là hàng chính hãng từ các nhà cung cấp có chất lượng và uy tín.
- Đấu nối không đúng kỹ thuật và tiêu chuẩn chất lượng.
- Lực lượng kỹ thuật thi công không được đào tạo chuyên môn bài bản.
..........

Sự ra đời và chuẩn hệ thống cáp có cấu trúc:

Vào những năm giữa thập niên 80, Hiệp hội công nghiệp viễn thông – viết tắt là TIA (Telecommunications Industry Association) và Hiệp hội công nghiệp điện tử - viết tắt là EIA (Electronic Industries Alliance) bắt đầu phát triển các phương pháp để xây dựng hệ thống cáp, với mục tiêu nhằm phát triển hệ thống dây dẫn hợp nhất hỗ trợ cho nhiều chủng loại thiết bị và các môi trường khác nhau. Năm 1991, TIA/EIA cho ra đời chuẩn TIA/EIA 568 (Commercial Building Telecommunication Cabling standard).
Tiêu chuẩn hệ thống cáp có cấu trúc TIA/EIA đề ra cách thiết kế, xây dựng, quản lý hệ thống cáp, và hệ thống này có cấu trúc, nghĩa là một hệ thống được thiết kế theo từng khối, mỗi khối có những đặc trưng về vận hành riêng biệt. Các khối được ghép lại với nhau theo kiểu phân cấp để hình thành nên hệ thống liên lạc đồng nhất.
Phiên bản khởi đầu của TIA/EIA trải qua một vài cập nhật và bổ sung. Phiên bản chủ yếu đã được cập nhật là phiên bản được phát hành vào năm 2000, phiên bản này kết hợp chặt chẽ các thay đổi của các phiên bản trước đó - TIA 568-B.1-2000 (Commercial Building Telecommunications Wiring Standard).
Chuẩn TIA chỉ ra các thông số cho mỗi phần của hệ thông cáp, bao gồm kết nối vùng làm việc, kết nối ngang, phòng viễn thông, phòng thiết bị và kết nối chéo, kết nối xương sống, và tiện nghi đầu vào.

Cáp đầu vào Từ ISP:


Cáp Backbone thông tầng:

Phòng Thiết bị:


Kết nối Khu vực làm việc:



Vị trí lắp outlet:




Mô Hình Triển khai



Cáp và thiết bị đấu nối cáp:

Cáp Mạng UTP/FTP:






Thống kê tiêu chuẩn và mã hiệu:



Modular và connector cho CAT6 UTP/FTP:






Các loại Outlet:




Patch Panel đấu nối cáp:





Đấu nối Patch Panel:





Thiết bị Test tín hiệu đầu cuối:



Hệ thống cáp đi trong sàn nâng:



Bài viết giới thiệu sơ lược về các vấn đề cơ bản của hạ tầng công nghệ thông tin, việc thiết kế và lắp đặt hệ thống mạng - thoại theo tiêu chuẩn một hệ thống cáp có cấu trúc phải bao gồm đầy đủ các yêu tố trên. Xây dựng hệ thống hạ tầng CNTT cũng như xây dựng nền và móng cho căn nhà, nếu hạ tầng không hoạt động tốt thì không thể vận hành tốt hệ thống và các ứng dụng quản trị, ứng dụng phần mềm.

Chi tiết của một hệ thống cáp có cấu trúc sẽ được trình bày trong một bài viết khác phân tích cụ thể và chi tiết hơn nữa về cáp có cấu trúc cho hệ thống mạng - thoại và hệ thống truyền thông tích hợp.

Share